Vì Sao Đặt Cược Tại Nhà Cái Luôn Thua-Thủ Thuật Đặt Cược Tại V9BET

Mổ ‘bắt con’ thành công cho sản phụ bị nhau cài răng lược có nhóm máu cực hiếm

Mổ bắt con thành công cho sản phụ bị nhau cài răng lược có nhóm máu cực hiếm - Ảnh 1.

Sản phụ và con khỏe mạnh sau ca mổ – Ảnh: NGỌC DIỆP

Bệnh viện Từ Dũ ngày 17-11 cho biết đã phẫu thuật thành công cho một sản phụ thai 34 tuần có nhóm máu bị nhau cài răng lược thể Percreta. Đây được xem là nhau cài răng lược thể trầm trọng nhất, do bánh nhau xuyên qua hết lớp cơ tử cung và bám đến thành bàng quang ở phía trước.

Bác sĩ Vương Đình Bảo Anh – trưởng khoa sản Bệnh viện Từ Dũ – cho biết sản phụ có thai lại sau 2 lần mổ lấy thai trước đó. Lúc thai 13 tuần, các bác sĩ tuyến dưới phát hiện bánh nhau bám gần vị trí vết mổ lấy thai cũ.

Quá trình thăm khám tại Bệnh viện Từ Dũ, các bác sĩ đánh giá đây là một trường hợp thai kỳ nguy cơ cao. Cuối tháng 10 lúc thai 33 tuần 3 ngày, các bác sĩ xác định thai ngôi ngang, nhau tiền đạo loại III-IV, nhau cài răng lược thể Percreta, thiếu máu mạn tính, nhóm máu hiếm Rhesus âm. Đây là nhóm máu rất hiếm, chỉ có ở khoảng 0,04% người Việt.

Bác sĩ Anh đánh giá, bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng mất máu nặng trước hoặc sau sinh, gây thiếu hụt thể tích tuần hoàn đột ngột, có thể dẫn đến suy thận, suy đa cơ quan và tử vong. Do đó, được lên kế hoạch mổ lấy thai lúc 34 tuần.

Để chuẩn bị cho ca mổ đặc biệt này, ngoài chuẩn bị máu dự trù, bệnh nhân cần được bồi hoàn máu hiếm. Tuy nhiên, do ngân hàng máu Bệnh viện Từ Dũ không đủ đáp ứng buộc phải phối hợp với ngân hàng máu Bệnh viện Chợ Rẫy và Truyền máu huyết học để thu thập đủ máu cần truyền cho bệnh nhân trước mổ. Qua đó giúp bệnh nhân nâng được Hb (phân tử protein có trong hồng cầu) lên 11g/L.

“Rất may mắn, cuộc mổ đã diễn ra suôn sẻ theo đúng kế hoạch và lượng máu mất chỉ 300mL, vì vậy bệnh nhân không cần phải truyền máu. Sau mổ lượng Hb của bệnh nhân vẫn duy trì ở mức 11g/L, còn tình trạng em bé sau sinh được chăm sóc tại khoa sơ sinh chỉ sau 3 ngày đã về với mẹ, sức khỏe bé rất tốt”, bác sĩ Anh chia sẻ.

Mỗi năm có trên 300 trường hợp nhau cài răng lược

Nhau cài răng lược là một tình trạng nguy hiểm của thai kỳ, xảy ra khi một phần hoặc toàn bộ bánh nhau phát triển sâu vào lớp cơ tử cung. Bình thường bánh nhau sẽ bám vào lớp màng đệm và sẽ bong hoàn toàn sau sinh. Với nhau cài răng lược, một phần hoặc toàn bộ bánh nhau không thể bong ra được do dính chặt vào lớp cơ tử cung. Điều này sẽ gây chảy máu nặng sau sinh.

Một nghiên cứu năm 2016 tại Mỹ cho thấy tỉ lệ nhau cài răng lược là 1/272 thai kỳ. Nhau cài răng lược trong dân số chung ngày càng tăng một phần do tỉ lệ mổ lấy thai tăng. Theo thống kê, mỗi năm có trên 300 trường hợp nhau cài răng lược được phẫu thuật tại Bệnh viện Từ Dũ.

Cứu sống mẹ bầu bị chứng tăng đông máu hiếm gặpCứu sống mẹ bầu bị chứng tăng đông máu hiếm gặp

TTO – Chị T. được chuyển vào viện khi đang mang thai tuần thứ 37 và được chẩn đoán mắc chứng tăng đông máu hiếm gặp, có thể ảnh hưởng đến tính mạng của hai mẹ con.

Việt Nam tham gia hợp tác y tế toàn cầu

Việt Nam tham gia hợp tác y tế toàn cầu - Ảnh 1.

Đại sứ Anh tại Việt Nam Gareth Ward giới thiệu về dự án tại lễ công bố tối 17-11 ở Hà Nội – Ảnh: ĐSQ ANH

Với tên gọi “Hợp tác vì tính bền vững và chống chịu của hệ thống y tế” (PHSSR), dự án được thử nghiệm từ tháng 8-2020 đến tháng 1-2021 tại 8 nước bao gồm Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Anh, Ba Lan, Nga và Việt Nam.

Trong giai đoạn này, các chuyên gia đến từ LSE sẽ làm việc với các nhóm chuyên gia địa phương để phát triển một khuôn khổ đánh giá tính bền vững và khả năng chống chịu của hệ thống y tế.

Đây sẽ là nền tảng cơ bản để đưa ra các khuyến nghị chính sách và giải pháp nhằm nâng cao khả năng ngăn ngừa, khắc phục và phục hồi sau các khủng hoảng cũng như cải thiện khả năng dự đoán, quản lý và giảm thiểu tác động của các bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm lên hệ thống y tế.

Tại Việt Nam, các chuyên gia sẽ tiến hành hai nghiên cứu tình huống về chất lượng dịch vụ y tế và tiếp cận của người dân với dịch vụ chất lượng; và năng lực hệ thống y tế cơ sở trong chăm sóc bệnh nhân nói chung và phòng chống dịch bệnh, TS Trần Thị Mai Oanh, giám đốc Viện Chiến lược và chính sách y tế, cho biết.

Những nghiên cứu này sẽ được trình bày tại Hội nghị thường niên của WEF tại Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1-2021.

“Khung đánh giá được phát triển trong khuôn khổ dự án này sẽ giúp cung cấp một cách đầy đủ về thực trạng của hệ thống y tế Việt Nam, nhất là những điểm cần cải thiện để hệ thống y tế được củng cố một cách bền vững, có tính đáp ứng linh hoạt cũng như khả năng phục hồi tốt”, bà Oanh nói.

Kinh nghiệm trong ứng phó với đại dịch COVID-19 là một trong những lý do để Việt Nam được lựa chọn tham gia dự án, đại sứ Anh tại Việt Nam Gareth Ward nhấn mạnh.

“Thời điểm để Việt Nam chia sẻ những kinh nghiệm thành công của mình tại một diễn đàn toàn cầu đã đến. Cuộc chiến chống COVID-19 mới chỉ ở giai đoạn đầu tiên nhưng chúng ta đã có thể bắt đầu học hỏi từ những bài học của nhau”, đại sứ Ward nói.

Với dân số hơn 90 triệu dân và khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có những đặc điểm địa lý khác biệt khi so sánh với 7 nước cùng tham gia giai đoạn thử nghiệm của dự án này, chủ tịch AstraZeneca Việt Nam, ông Nitin Kapoor nói với Tuổi Trẻ Online.

Ông đồng thời bày tỏ kỳ vọng những yếu tố này sẽ giúp dự án mở rộng phạm vi nghiên cứu và có nhiều kinh nghiệm đa dạng hơn để áp dụng tại các quốc gia khác trong tương lai.

Họp trực tuyến Bộ trưởng Y tế G20: Việt Nam đề xuất biện pháp hợp tác chống dịch COVID-19Họp trực tuyến Bộ trưởng Y tế G20: Việt Nam đề xuất biện pháp hợp tác chống dịch COVID-19

TTO – Bộ trưởng Y tế các nền kinh tế lớn thuộc nhóm G20 vừa bắt đầu cuộc họp trực tuyến ngày 19-4 để thảo luận biện pháp chung đối phó với đại dịch COVID-19. Tại cuộc họp, Việt Nam đề xuất các biện pháp hợp tác quốc tế.

Vắcxin COVID -19 Moderna xuất hiện cùng những bất ngờ gì?

Vắcxin COVID -19 Moderna xuất hiện cùng những bất ngờ gì? - Ảnh 1.

Hãng Moderna công bố vắcxin COVID-19 cho hiệu quả bảo vệ tới 94,5% theo các kết quả phân tích dữ liệu ban đầu ở thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba – Ảnh: AFP

Ngày 16-11, ông Stéphane Bancel, CEO Hãng dược Mỹ Moderna, công bố vắcxin mRNA-1273 ngừa COVID-19 do họ phát triển cho hiệu quả phòng bệnh tới 94,5% trong các đánh giá ban đầu dữ liệu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba.

Dùng tiêu chuẩn vàng

Giai đoạn thử nghiệm lâm sàng thứ ba là giai đoạn kiểm tra khả năng phòng chống lây nhiễm virus corona trong thực tế. Vì những người tiến hành thử nghiệm không thể cố tình lây bệnh cho người khác, nên họ phải chờ xem ai sẽ bị lây nhiễm COVID-19 trong nhóm các tình nguyện viên. Từ đó nhóm nghiên cứu sẽ so sánh tỉ lệ lây nhiễm giữa nhóm được tiêm vắcxin của Moderna và nhóm chỉ dùng giả dược (placebo).

Khác với vắcxin do Pfizer và BioNTech công bố tuần trước, Hãng Moderna cung cấp nhiều thông tin hơn về đối tượng thử nghiệm vắcxin COVID-19, theo đó cho thấy hiệu quả của thuốc có tác dụng ở nhiều độ tuổi và nhiều nhóm chủng tộc khác nhau.

Theo giới quan sát, dù mới chỉ là đánh giá bước đầu, song kết quả nghiên cứu vắcxin COVID-19 của Moderna vẫn được đánh giá là quan trọng, mang lại nhiều hi vọng hứng khởi. Bởi trong thử nghiệm này, cả hãng dược lẫn các tình nguyện viên đều không biết ai được tiêm vắcxin, ai được tiêm giả dược.

Đây được gọi là “tiêu chuẩn vàng” trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng nhằm ngăn cả hai nhóm không thay đổi hành vi hoặc có động thái can thiệp có thể làm thay đổi kết quả nghiên cứu theo chủ ý.

Sẽ có một nhóm các nhà khoa học độc lập do chính phủ bổ nhiệm thuộc Ban giám sát an toàn dữ liệu (DSMB) đóng vai trò trung gian giữa các tình nguyện viên và những người thử nghiệm vắcxin. Chỉ DSMB biết ai tiêm vắcxin, ai không, nhưng họ không cung cấp thông tin này cho hãng dược. Họ cũng là nhóm giám sát thử nghiệm để đảm bảo không xảy ra những biến chứng nghiêm trọng và dừng ngay nếu có sự cố.

An toàn là tối thượng

Thông báo ngày 16-11 của Moderna cũng có nghĩa thế giới gần như chắc chắn sẽ có hơn một loại vắcxin ngừa COVID-19 cho hiệu quả cao, và viễn cảnh chấm dứt đại dịch đã không còn quá mờ mịt.

Dù vậy vẫn còn một số vấn đề tạp chí Vox (Mỹ) thận trọng đề cập. Trước hết, những kết quả Moderna công bố về hiệu quả vắcxin mRNA-1273 mới chỉ là kết quả ban đầu. Vắcxin này phải tiêm hai liều cách nhau 4 tuần và đã có một số phản ứng phụ ghi nhận trong thử nghiệm mặc dù mức độ chỉ từ nhẹ tới trung bình, chưa gặp phản ứng phụ nghiêm trọng.

Tuy nhiên vì vắcxin là thứ sẽ phải dùng cho hàng triệu, hoặc có thể là hàng tỉ người, các biến chứng phụ dù nhỏ cũng sẽ xuất hiện với tần suất cao hơn khi tiêm cho nhiều người, nên đây chắc chắn là vấn đề cần được tiếp tục theo dõi. Trên thực tế, các ứng cử viên vắcxin COVID-19 của Johnson & Johnson hay vắcxin của ĐH Oxford và Hãng AstraZeneca cũng từng phải dừng thử nghiệm vì biến chứng ghi nhận ở tình nguyện viên.

Bên cạnh đó, giai đoạn thử nghiệm lâm sàng thứ ba chưa kết thúc và các kết quả đánh giá ban đầu của Moderna, giống như vắcxin của Pfizer và BioNTech, mới được trình bày trong thông cáo báo chí, chưa phải trong một báo cáo khoa học có sự bình duyệt của người trong giới (peer-reviewed), một tiêu chí thẩm định chuyên môn quan trọng. Moderna chưa phản hồi về những vấn đề này.

Ngoài ra, dù việc chứng minh hiệu quả của vắcxin là điều quan trọng, song lộ trình để hàng triệu người được tiêm vắcxin trong thời gian tới cũng đặt ra rất nhiều thách thức trong công tác hậu cần (lưu trữ, bảo quản, vận chuyển…). Cả hai loại vắcxin này đều phải được trữ lạnh hoặc ở nhiệt độ thấp.

Theo tạp chí Vox, vắcxin của Pfizer/BioNTech phải trữ ở nhiệt độ -70 độ C hoặc thấp hơn, còn vắcxin của Moderna hoạt động ổn định khi được trữ ở nhiệt độ từ 36 – 46 độ F (2,2 – 7,7 độ C) trong 30 ngày.

Giải pháp vắcxin từ công nghệ mRNA

Vắcxin của Moderna là loại vắcxin mRNA thứ hai tới nay, sau vắcxin của Pfizer và BioNTech, được chứng minh có thể mang lại hiệu quả cao trong phòng ngừa virus corona. Đây là công nghệ mới sử dụng vật chất di truyền RNA, trong trường hợp này là mRNA, để bào chế vắcxin.

Công nghệ này là bước chuyển lớn so với công nghệ bào chế vắcxin truyền thống (thường dùng virus đã bị làm yếu, virus đã chết hoặc một phần của virus). Với RNA và các vắcxin được phát triển bằng công nghệ DNA tương tự, không có cấu trúc nào của virus được tiêm vào cơ thể.

Khi lợi thế cạnh tranh nằm ở… tủ lạnh

Sau gần 10 tháng chạy đua phát triển vắcxin hiệu quả, nhân loại lại đau đầu với bài toán vận chuyển và phân phối vắcxin ra sao. Mọi công sức, tiền bạc mà các hãng dược bỏ ra giờ đây phụ thuộc gần như toàn bộ vào… tủ lạnh (thiết bị bảo quản vắcxin trong quá trình vận chuyển).

vaccine-pfizer (2) 1(read-only)

Tủ đông siêu lạnh bảo quản vắcxin của Pfizer tại cơ sở ở Puurs (Bỉ) – Ảnh: REUTERS

Vắcxin Pfizer đi trước lại về sau

Hôm 9-11, Hãng dược Pfizer (Mỹ) và đối tác BioNTech (Đức) tuyên bố họ đã sở hữu loại vắcxin ngừa COVID-19 đầu tiên trên thế giới đạt hiệu quả thử nghiệm đến 90%. Thông tin này lập tức tạo ra một làn sóng xanh trên khắp các thị trường chứng khoán. Nhưng vui chưa được bao lâu, người ta lại trăn trở vì loại vắcxin này đòi hỏi trữ đông ở nhiệt độ -70 độ C trong suốt quá trình vận chuyển.

Sau khi thu thập được nhiều dữ liệu hơn, Pfizer xác định vắcxin có thể duy trì ở mức 2 – 8 độ C trong vòng 5 ngày, nhưng để lưu trữ được lâu hơn, vắcxin cần được bảo quản trong nhiệt độ siêu lạnh khoảng -70 độ C – đồng nghĩa nhiều người ở các vùng xa xôi hẻo lánh có thể sẽ không được tiêm loại vắcxin tốt này.

Tiến sĩ Kelly Moore của Liên minh Hành động tiêm chủng và đồng thời là cố vấn cho Pfizer thừa nhận “chưa từng có bất kỳ loại vắcxin nào ở Mỹ yêu cầu nhiệt độ bảo quản như vậy trước khi sử dụng”.

Ông Prashant Yadav, chuyên gia về chuỗi cung ứng chăm sóc sức khỏe, cho biết ngay cả ở Mỹ hay trên toàn cầu, vẫn chưa có nhiều tủ đông có nhiệt độ siêu lạnh. Những nơi duy nhất có dây chuyền bảo quản siêu lạnh là các trung tâm y tế học thuật, hệ thống bệnh viện tương đối lớn…

Theo ông Yadav, cách duy nhất để phân phối vắcxin của Pfizer là phải vận chuyển hầu như hằng ngày hoặc ít nhất vài lần trong tuần từ nơi sản xuất đến các điểm tiêm chủng để bảo đảm chúng đạt hiệu quả tốt nhất.

Dễ bảo quản sẽ thắng?

Ngày 16-11, một hãng dược khác của Mỹ là Moderna giải tỏa nỗi băn khoăn về nhiệt độ bảo quản khi tuyên bố vắcxin ngừa COVID-19 của hãng này hiệu quả lên tới 94,5% và không cần giữ ở nhiệt độ siêu lạnh như vắcxin của Pfizer. Người phát ngôn của Moderna nhấn mạnh loại vắcxin của họ chỉ cần được bảo quản ở nhiệt độ gần như tủ lạnh gia đình.

“Vắcxin của chúng tôi có thể lưu trữ trong điều kiện làm lạnh từ 2 – 8 độ C trong khoảng một tuần”, vị này tự tin tuyên bố. Nước Anh lập tức “chốt đơn” 5 triệu liều với Moderna, lên lịch giao trước mùa xuân năm 2021. Một quan chức của Liên minh châu Âu cũng tiết lộ với Hãng tin Reuters đang trong quá trình đàm phán mua “hàng triệu” liều vắcxin của Moderna với giá 25 USD/liều.

Như vậy có thể thấy mặc dù Pfizer đi trước nhưng lại về sau Moderna. Vắcxin của Pfizer và Moderna được phát triển dựa trên công nghệ mRNA lần đầu tiên được sử dụng, hứa hẹn sẽ biến cơ thể người tiêm thành một nhà máy tự sản xuất vắcxin chống COVID-19.

Nếu không tính mức độ hiệu quả của vắcxin vì chỉ mới là kết quả sơ bộ, việc vắcxin của Pfizer phải bảo quản ở nhiệt độ tương đương mùa đông Nam Cực trong suốt quá trình vận chuyển đã khiến loại vắcxin này mất lợi thế cạnh tranh trước đối thủ.

BẢO DUY – KỲ THƯ

Vắcxin Hãng Moderna của Mỹ công bố hiệu quả tới 94,5%Vắcxin Hãng Moderna của Mỹ công bố hiệu quả tới 94,5%

TTO – Hãng dược Moderna của Mỹ cho hay vắcxin đang trải qua thử nghiệm của họ cho thấy hiệu quả tới 94,5% trong việc phòng ngừa COVID-19, dựa trên dữ liệu sơ bộ thu từ cuộc thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn của hãng này.

Bệnh Whitmore tăng ở miền Trung

Bệnh Whitmore tăng ở miền Trung - Ảnh 1.

Bệnh nhân Whitmore điều trị tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Trung ương Huế – Ảnh: Bệnh viện

Thông tin từ Bệnh viện Trung ương Huế (Thừa Thiên – Huế) cho biết từ đầu tháng 10-2020 đến giữa tháng 11-2020, đơn vị ghi nhận 28 trường hợp mắc bệnh Whitmore, tăng đột biến so với trung bình hằng năm.

Trong đó, khoảng 50% bệnh nhân là người dân Thừa Thiên – Huế, còn lại là các bệnh nhân từ các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị…

Nhiều bệnh nhân đến viện ở giai đoạn muộn của bệnh, khi đã có tình trạng nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hoặc suy đa tạng… khiến việc điều trị khó khăn, chi phí điều trị cao nhưng kết quả không khả quan.

Theo thống kê tại Bệnh viện Trung ương Huế, từ 2014-2019 có 83 trường hợp được chẩn đoán Whitmore (cấy bệnh phẩm dương tính với Burkholderia Pseudomallei). Từ tháng 1 đến tháng 9-2020, có 11 bệnh nhân mắc bệnh Whitmore.

Số lượng ca bệnh Whitmore có liên quan chặt chẽ và tỉ lệ thuận với lượng mưa hằng năm và đặc biệt tăng cao sau lũ lụt do sự phát triển mạnh mẽ của vi khuẩn Burkholderia Pseudomallei.

Bệnh Whitmore (hay còn gọi là bệnh Melioidosis) do trực khuẩn gram âm Burkholderia Pseudomallei gây ra. Vi khuẩn này được tìm thấy trong đất, nước bẩn hay tại các cánh đồng lúa gạo và các vùng nước tù đọng; có thể lây lan sang người và động vật bằng việc tiếp xúc trực tiếp với các nguồn ô nhiễm.

Người mắc bệnh Whitmore chủ yếu do vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua các vị trí da, vết thương bị xây xước hoặc hít phải bụi, hơi nước, uống nước có nhiễm khuẩn.

Tại chỗ xâm nhập, chúng gây thành các mụn mủ to hoặc nhỏ tùy theo mức độ, đôi khi là một ổ ápxe lớn. Nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời, bệnh sẽ diễn tiến trầm trọng, có thể sốc nhiễm khuẩn gây suy nhiều cơ quan, tạng dẫn đến nguy cơ tử vong.

Bệnh Whitmore thường gặp ở người có tiền sử đái đáo đường, chiếm tỉ lệ khoảng 37-60% người mắc. Thời kỳ ủ bệnh ngắn nhất được ghi nhận là 1 ngày và dài nhất là 62 năm.

Hầu hết các bệnh nhân mắc Whitmore có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, không rõ ràng, tổn thương đa cơ quan. Chẩn đoán dễ bỏ sót và dễ nhầm với bệnh khác, đặc biệt là bệnh lao do tính chất tổn thương giống lao.

Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II Hoàng Thị Lan Hương – phó giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, cho biết để chủ động phòng bệnh Whitmore, người dân cần hạn chế tiếp xúc với các nguồn ô nhiễm; sử dụng giày, dép, găng tay khi tiếp xúc với đất, nước bẩn, nước lụt.

Đặc biệt khi có vết thương hở, vết loét… cần cần tránh tiếp xúc với đất hoặc nước lũ bị ô nhiễm nặng.

Những người có bệnh mãn tính như tiểu đường, suy giảm miễn dịch cần được chăm sóc, bảo vệ các tổn thương để ngăn ngừa nhiễm khuẩn do nước lũ gây ra. Khi nghi ngờ nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế để được tư vấn, khám phát hiện, xét nghiệm xác định nhiễm vi khuẩn Burkholderia pseudomallei và điều trị kịp thời.

Lần đầu tiên giới y khoa ghi nhận: 2 anh em ruột chết do whitmoreLần đầu tiên giới y khoa ghi nhận: 2 anh em ruột chết do whitmore

TTO – Hai bé trai 5 tuổi và hơn 1 tuổi – là hai anh em ruột ở Sóc Sơn, Hà Nội – đã tử vong tại Bệnh viện Nhi T.Ư hôm 31-10 và 16-11 cùng do bệnh whitmore.

Ngủ bao nhiêu tiếng mỗi ngày để sống lâu?

Ngủ bao nhiêu tiếng mỗi ngày để sống lâu? - Ảnh 1.

Thức dậy sớm là một thói quen tốt – Ảnh: Science Daily

Trong nghiên cứu mới đăng trên tạp chí Circulation, Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) ghi nhận người lớn có thói quen ngủ lành mạnh có thể giảm đến 42% nguy cơ bệnh tim, bất kể các yếu tố rủi ro khác, so với người lớn có giấc ngủ không tốt.

Ngủ lành mạnh bao gồm thức dậy sớm vào buổi sáng, ngủ đủ 7-8 tiếng mỗi ngày, không bị mất ngủ thường xuyên, không ngáy thường xuyên, không bị cảm giác buồn ngủ hoặc thiếu năng lượng trong ngày.

Bệnh tim là một đại dịch, ảnh hưởng hơn 26 triệu người trên toàn cầu. Nhiều bằng chứng mới cho thấy các vấn đề về giấc ngủ có thể đóng vai trò gây ra bệnh tim.

Tổ chức AHA đã tiến hành theo dõi 408.802 người, tuổi từ 37-73, tham gia Ngân hàng sinh học UK Biobank. Họ thu thập dữ liệu về các trường hợp bệnh tim từ năm 2010 đến tháng 4-2019, tổng cộng có 5.221 trường hợp.

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu phân tích chất lượng giấc ngủ và thói quen ngủ của các đối tượng. Thời lượng ngủ được chia làm 3 nhóm: ngắn – ít hơn 7 tiếng; vừa đủ – 7-8 tiếng; và dài – hơn 9 tiếng.

Sau khi điều chỉnh các nguy cơ như bệnh tiểu đường, cao huyết áp, dùng thuốc, khác biệt di truyền…, nhóm nghiên cứu kết luận những người có thói quen ngủ lành mạnh nhất giảm được 42% nguy cơ bệnh tim so với người ngủ không tốt.

Các yếu tố tác động được đánh giá độc lập, cụ thể: Dậy sớm giảm được 8% nguy cơ; ngủ đủ 7-8 tiếng giảm được 12% nguy cơ; không bị mất ngủ thường xuyên giảm được 17%; không bị mệt mỏi, buồn ngủ trong ngày giảm được 34%.

“Phát hiện của chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện giấc ngủ, từ đó giúp tránh mắc phải bệnh tim”, tiến sĩ Lu Qi, nhà dịch tễ học thuộc Đại học Tulane (Mỹ), đúc kết.

Cha mẹ mắc bệnh tim mạch, con cái cũng sẽ bị?Cha mẹ mắc bệnh tim mạch, con cái cũng sẽ bị?

TTO – Tim mạch được xếp vào một trong 4 bệnh lý có tỉ lệ tử vong hàng đầu ở Việt Nam (cùng với ung thư, tiểu đường và đột quỵ). Ngoài mối quan tâm làm sao để có một ‘trái tim khỏe’, rất nhiều người thắc mắc liệu bệnh tim mạch có di truyền?

‘Gỡ’ áp lực cho người hiếm muộn, chậm có con

Gỡ áp lực cho người hiếm muộn, chậm có con - Ảnh 1.

Bác sĩ Hồ Mạnh Tường: “Ở Việt Nam có gia đình gần như phải đồng nghĩa với chuyện có con. Tất cả gia đình chỉ còn là chuyện đứa con, nếu không có đứa con không tồn tại gia đình” – Ảnh: HOÀNG LỘC

Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online, bác sĩ HỒ MẠNH TƯỜNG – Tổng thư ký Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM, nói: “Hiếm muộn đang là một vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển xã hội. Là vấn đề mới nhưng ở nước ta đang bị nhìn nhận bằng một quan niệm cũ.

Tức là không có con được coi là chuyện bất thường, và từ quan niệm ‘không có đứa con không tồn tại gia đình’ đã vô tình đẩy câu chuyện vốn dĩ nó không có trở thành một bi kịch. Ở nước ngoài, việc có con với họ không thực sự quan trọng như thế”.

Mệt mỏi vì “được” hỏi thăm…

* Nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn chia sẻ rất sợ bị hỏi thăm…

– Với các cặp vợ chồng mong có con nhưng chưa có được, bản thân họ là người căng thẳng đầu tiên. Nhiều trường hợp hiếm muộn kể với tôi khi đến cơ quan làm việc, họ cứ bị hỏi “sao không có con, có chuyện gì không”. Riết họ không dám lên cơ quan hoặc đến mà không dám nói chuyện với ai. Họ dần sống khép kín, hạn chế gặp gỡ và bỗng nhiên bị tách khỏi cộng đồng lúc nào không hay.

Rồi kinh khủng hơn là áp lực từ hàng xóm, bà con dòng họ cứ hỏi “sao hai đứa vẫn chưa có con”. Nhiều người không thích lại nói “tại vì tụi nó ăn ở sao đó, cha mẹ ăn ở sao đó”…Ở trong hoàn cảnh đó mới thấu, thê thảm lắm!

* Như vậy việc chưa có con cần được xã hội nhìn nhận là không phải lỗi từ các cặp vợ chồng?

– Đúng thế. Xã hội ngày càng phát triển, việc các cặp vợ chồng khó có con hơn đang trở thành vấn đề phổ biến, không phải lỗi từ ai cả. Xu thế sinh con trễ hơn, dành thời gian cho xã hội nhiều hơn, cộng với tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay chính là nguyên nhân ít nhiều ảnh hưởng tới khả năng sinh sản.

Như vậy từ quan niệm chuyện có con là bình thường, không có con là ít gặp thì chúng ta nên nhìn nhận không có con (chậm có con) là điều hoàn toàn phổ biến, bất cứ cặp vợ chồng nào cũng có thể gặp phải.

Làm gì để giúp người hiếm muộn?

Gỡ áp lực cho người hiếm muộn, chậm có con - Ảnh 2.

Gia đình anh chị Nguyễn Văn Niên, Nguyễn Thị Mai Thanh (Bình Dương) hạnh phúc khi có con sau bao năm tìm kiếm – Ảnh: HỮU THUẬN

* Đã có những cặp vợ chồng vượt ra khỏi “bi kịch cuộc đời” để vững bước trên hành trình tìm con của mình…

– Tôi đặc biệt vui mừng trước cái kết của một cặp vợ chồng hiếm muộn tìm con suốt hơn 5 năm trời. Sinh xong, vợ chồng ấy bồng con đến gặp bác sĩ cảm ơn. Họ bảo có một chuyện mừng hơn có con, đó là tết này sẽ cùng nhau đi thăm ông bà, bà con dòng họ, điều mà mấy năm trước họ không dám đi.

Vợ chồng họ rất vui mừng nhưng tôi vô cùng cảm động, bởi biết rằng mình đã làm được một việc có ý nghĩa to lớn cho bệnh nhân.

* Gia đình và xã hội có thể làm gì để giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn?

– Tôi nghĩ xã hội cần phải thay đổi rất nhiều để cải thiện cái nhìn với người hiếm muộn. Đặc biệt bản thân các cặp vợ chồng hiếm muộn cần hiểu rằng đó là vấn đề phổ biển, có cái nhìn “mở” hơn. Bởi ước tính trên thế giới có khoảng 100 triệu cặp vợ chồng khó có con; ở Việt Nam có thể 1-2 triệu cặp và cứ khoảng 10 cặp vợ chồng thì có 1-2 cặp khó có con.

Để các cặp vợ chồng hiếm muộn vượt qua áp lực “phải có con bằng mọi giá”, theo tôi cách hỗ trợ tốt nhất là “đừng làm gì hết”. Có nghĩa là hãy coi việc chưa có con là chuyện bình thường, cứ làm lơ đi đừng “thèm” quan tâm gì cả. Đó là cách hỗ trợ tốt nhất trước khi giúp được một điều gì đó lớn hơn. Có nhiều người quan tâm thái quá, cứ hỏi hoài thành ra gây áp lực lớn hơn.

Các cặp vợ chồng hiếm muộn thường phải trải qua một quá trình điều trị dài hơi, mất rất nhiều thời gian, sức lực, tiền bạc… Do đó ở các nơi làm việc nên có chính sách là tạo điều kiện cho họ được rộng rãi về thời gian nghỉ ngơi, thư giãn.

Làm được như thế, tôi tin rằng người hiếm muộn sẽ giảm bớt gánh nặng và việc có con chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi…

Gỡ áp lực cho người hiếm muộn, chậm có con - Ảnh 3.

Vợ chồng anh Hưng, chị Huệ (Q.12), từng hiếm muộn và may mắn có con sau khi tham gia chương trình ươm mầm hạnh phúc – Ảnh: H.Y

Nên nói gì và không nên nói gì với người hiếm muộn?

Bác sĩ Lê Tiểu My – Bệnh viện Mỹ Đức TP.HCM, cho biết không có cách “hành xử” kiểu mẫu, nhưng tinh ý một chút, biết những gì “nên nói” hoặc “không nên nói” cũng có thể là một cách hỗ trợ người hiếm muộn.

– Đừng bao giờ khuyên các cặp vợ chồng mong con “cứ thư giãn, từ từ”, bởi càng khiến họ, nhất là người vợ, cảm thấy bản thân không đúng hoặc “có vấn đề”.

– Đừng hỏi “sao chưa đi làm thụ tinh trong ống nghiệm”, vì điều trị hiếm muộn là một quá trình không hề đơn giản, rất khó khăn, mất thời gian và có thể thất bại. Và quan trọng hơn cần nghĩ đó là chuyện rất đỗi “riêng tư”.

– Đừng nói đùa những câu kiểu như “tớ sẽ hiến trứng/tinh trùng”, hoặc “anh ấy nhìn vậy mà sao yếu nhỉ?”…

– Đừng than phiền về thai kỳ của bạn: thai nghén, em bé quẫy đạp, hình ảnh em bé qua siêu âm…tất cả những điều đáng yêu đó, đừng đem khoe với người mong con. Ngoài ra, đừng thảo luận chuyện bỉm sữa khi trong nhóm có người hiếm muộn.

– Hãy ủng hộ quyết định của “người trong cuộc”: Dù họ kiên quyết điều trị hay bỏ điều trị, dù họ thành công hay chưa, hãy luôn nhấn mạnh rằng bạn tôn trọng và ủng hộ quyết định của họ.

Hành trình 20 năm của những đứa trẻ thụ tinh trong ống nghiệmHành trình 20 năm của những đứa trẻ thụ tinh trong ống nghiệm

TTO – Đúng ngày này 20 năm trước (30-4-1998), ba bé sơ sinh đầu tiên ở Việt Nam cất tiếng khóc chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

FDA cấp phép dụng cụ tự xét nghiệm COVID-19 tại nhà đầu tiên

FDA cấp phép dụng cụ tự xét nghiệm COVID-19 tại nhà đầu tiên - Ảnh 1.

Dụng cụ xét nghiệm COVID-19 tại gia có khả năng cho kết quả trong vòng 30 phút – Ảnh: REUTERS

Theo Hãng tin Reuters, dụng cụ trên do hãng Lucira Health phát triển và cho kết quả trong 30 phút.

FDA đã cấp phép sử dụng sản phẩm dùng một lần này trong trường hợp xét nghiệm khẩn cấp tại nhà. Những trường hợp được phép tự lấy mẫu xét nghiệm phải từ 14 tuổi trở lên và được cơ quan y tế xác nhận nghi nhiễm COVID-19.

“Đây là xét nghiệm đầu tiên có thể hoàn toàn tự thực hiện và lấy kết quả tại gia”, Giám đốc FDA Stephen Hahn cho biết.

Cũng theo ông Hahn, dụng cụ xét nghiệm này có thể dùng tại bệnh viện hoặc các điểm thăm khám sức khỏe, và việc lấy mẫu cho người dưới 14 tuổi phải do nhân viên y tế thực hiện.

Theo Reuters, Mỹ hiện có hơn 11 triệu ca COVID-19, tính tới ngày 15-11, tức chỉ 10 ngày sau khi vượt qua con số 10 triệu ca nhiễm.

Hãng dược Pfizer ngày 16-11 đã khởi động chương trình thử nghiệm vận chuyển vắc xin COVID-19 tại 4 tiểu bang của Mỹ, nhằm giải quyết các thách thức về yêu cầu bảo quản gắt gao. Trước đó, hãng này đã tung ra số liệu ban đầu cho thấy loại vắc xin do hãng phối hợp cùng đối tác BioNTech đến từ Đức có hiệu quả đến hơn 90%.

Moderna, một hãng dược khác, cũng cho biết vắc xin đang thử nghiệm của hãng hiệu quả 94,5% trong việc ngăn ngừa COVID-19, dựa trên dữ liệu sơ bộ từ một thử nghiệm giai đoạn cuối.

Bên cạnh những tin tức tích cực trên, dụng cụ xét nghiệm là một vấn đề then chốt khác trong việc kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh.

Vắcxin COVID -19 Moderna xuất hiện cùng những bất ngờ gì?Vắcxin COVID -19 Moderna xuất hiện cùng những bất ngờ gì?

TTO – Một tuần sau khi Hãng dược Pfizer công bố vắcxin COVID-19 do họ phát triển đạt hiệu quả hơn 90%, Hãng Moderna thông báo vắcxin COVID-19 của họ thậm chí còn cho hiệu quả cao hơn: 94,5%.

Ngày càng nhiều người Mỹ sẵn sàng tiêm vắcxin COVID-19

Ngày càng nhiều người Mỹ sẵn sàng tiêm vắcxin COVID-19 - Ảnh 1.

Thế giới đang kỳ vọng vào một loại vắcxin COVID-19 hiệu quả – Ảnh: REUTERS

Cuộc khảo sát được thực hiện từ ngày 19-10 đến ngày 1-11, trước khi Pfizer và Moderna thông báo vắcxin của họ có hiệu quả 90% trong các thử nghiệm giai đoạn cuối.

Tiến sĩ Phoebe Danziger tại Đại học Michigan cho biết dữ liệu thăm dò của Gallup phù hợp với những gì cô quan sát trong thực tế.

“Rõ ràng có nhiều người còn do dự nhưng quan điểm đang dần chuyển sang tích cực”, Danziger nói. Trong bối cảnh các ca bệnh COVID-19 liên tục gia tăng, Danziger cảm thấy mọi người đang bắt đầu nhận ra rằng họ “thực sự cần vắcxin để thoát ra khỏi mớ hỗn độn này”.

Sự sẵn sàng tiêm chủng vắcxin phản ánh rõ hơn ở một số nhóm nhất định, nhất là ở đảng viên Dân chủ và người Mỹ trong độ tuổi từ 45-64.

Cụ thể, mức độ sẵn sàng tiêm vắcxin ở đảng viên Dân chủ tăng từ 53% vào tháng 9 lên 69%. Gần một nửa số người Mỹ trong độ tuổi từ 45-64 cho biết họ sẵn sàng tiêm vắcxin, tăng từ 36% vào tháng 9.

Việc tiêm chủng rộng rãi được coi là điều cần thiết trước khi các biện pháp phòng dịch được dỡ bỏ và cuộc sống trở lại bình thường.

Tuy nhiên, sự hoài nghi về một loại vắcxin được phát triển vội vàng vẫn đặt ra thách thức đáng kể cho giới chức. Các nhà chức trách sẽ cần thuyết phục công chúng rằng bất kỳ loại vắcxin COVID-19 nào được chấp thuận cũng đều an toàn, theo New York Times.

Quá trình phê duyệt vắcxin gấp rút là mối quan tâm của 37% người được Gallup khảo sát. Khoảng 26% người nói họ sẽ chờ xác nhận rằng vắcxin an toàn.

Một nhóm nhỏ hơn – khoảng 12% – nói rằng họ không tin tưởng vào vắcxin nói chung. Điều này phản ánh xu hướng không tin tưởng vào vắcxin đang gia tăng trên toàn quốc trong những năm gần đây.

Vắcxin COVID -19 Moderna xuất hiện cùng những bất ngờ gì?Vắcxin COVID -19 Moderna xuất hiện cùng những bất ngờ gì?

TTO – Một tuần sau khi Hãng dược Pfizer công bố vắcxin COVID-19 do họ phát triển đạt hiệu quả hơn 90%, Hãng Moderna thông báo vắcxin COVID-19 của họ thậm chí còn cho hiệu quả cao hơn: 94,5%.

Từ 7,4 triệu người cao tuổi, Việt Nam sẽ thành nước ‘siêu già’ năm 2050

Từ 7,4 triệu người cao tuổi, Việt Nam sẽ thành nước siêu già năm 2050 - Ảnh 1.

Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường – Ảnh: HỒNG QUÂN

Hội thảo quốc tế tăng cường hợp tác giữa các bên nhằm thúc đẩy già hóa năng động và sức khỏe tâm thần người cao tuổi trong ASEAN diễn ra tại Hà Nội ngày 18-11.

Hội thảo do Bộ Y tế phối hợp Viện nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA), Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tổ chức.

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường cho biết cộng đồng ASEAN có dân số đứng thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ. Với 45 triệu người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên, chiếm 7% dân số ASEAN, đến 2050 con số này sẽ tăng lên 132 triệu người (chiếm 16,7%).

Các quốc gia đang già hóa dân số như Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia sẽ trở thành các nước “siêu già” vào năm 2050.

Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ già hóa dân số từ 2011, nhưng tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Số người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên là 7,4 triệu người cao tuổi (chiếm 7%) và có hơn 2 triệu người trên 80 tuổi.

Từ 7,4 triệu người cao tuổi, Việt Nam sẽ thành nước siêu già năm 2050 - Ảnh 2.

TS. Naomi cho biết chỉ có khoảng 20% người cao tuổi có lương hưu, nhiều người sống chật vật, cùng cực ngày qua ngày – Ảnh: HỒNG QUÂN

TS. Naomi Kitahara, trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam, chia sẻ già hóa dân số xảy ra không phải vì tỉ lệ tử vong giảm hay vì con người sống lâu hơn, mà phần lớn là do mức sinh giảm.

Các quốc gia trên thế giới phải chuẩn bị cho già hóa dân số khi các cặp vợ chồng bắt đầu có một gia đình nhỏ hơn. Việt Nam cần phải tính đến một mô hình mới có thể đồng bộ hóa vấn đề dân số với tăng trưởng kinh tế – xã hội, đồng thời đảm bảo hòa nhập xã hội cho người cao tuổi.

Đại dịch COVID-19 đã làm gia tăng, nêu bật tính dễ bị tổn thương cũng như những nhu cầu cụ thể của người cao tuổi. Tỉ lệ tử vong ở người cao tuổi trên 80 cao gấp 5 lần mức trung bình toàn cầu trong dịch COVID-19.

Người cao tuổi phải được coi là một ưu tiên trong nỗ lực nhằm vượt qua đại dịch COVID-19 của cộng đồng ASEAN nhằm đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.

“Đã đến lúc thay đổi mục tiêu chỉ hỗ trợ cuộc sống người cao tuổi sang hỗ trợ họ đóng góp cho xã hội, đất nước” – TS. Naomi nhấn mạnh.

Theo Tổng cục Dân số (Bộ Y tế), nếu các nước phát triển phải mất một thế kỷ hoặc vài thập kỷ để chuyển đổi từ giai đoạn già hóa dân số (7%) sang dân số già (14%) như: Pháp (115 năm), Thụy Điển (85 năm), Australia (73 năm), Mỹ (69 năm), Canada (65 năm), Anh (45 năm)… Việt Nam sẽ chỉ mất 20 năm. Đến năm 2050, Việt Nam sẽ có 22,3 triệu người cao tuổi, chiếm 20,4% tổng dân số.

Việt Nam có trên 96 triệu người: dân số vàng, nhưng tốc độ già hóa đang tăng nhanhViệt Nam có trên 96 triệu người: dân số vàng, nhưng tốc độ già hóa đang tăng nhanh

TTO – Tổng dân số của Việt Nam là 96,2 triệu người, là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ 15 trên thế giới với tuổi thọ trung bình hơn 73 tuổi.

Việt Nam là nước châu Á duy nhất tham gia thí điểm dự án củng cố hệ thống y tế toàn cầu

Việt Nam là nước châu Á duy nhất tham gia thí điểm dự án củng cố hệ thống y tế toàn cầu - Ảnh 1.

Nhóm nghiên cứu và triển khai dự án tại Việt Nam chụp ảnh cùng Đại sứ Anh và Đại sứ Thụy Điển – Ảnh: ĐẠI SỨ QUÁN ANH TẠI VIỆT NAM

Theo Đại sứ quán Anh tại Việt Nam, dự án đầy tham vọng này ra đời nhằm khởi động nỗ lực đa ngành và rộng khắp, hỗ trợ các hệ thống y tế tiên đoán trước, ngăn ngừa và thích ứng với những thách thức về y tế khác nhau mà thế giới phải đối mặt.

Trong giai đoạn thí điểm kéo dài đến tháng 1-2021, PHSSR sẽ được triển khai tại tám quốc gia bao gồm Vương quốc Anh, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nga, Ba Lan và Việt Nam.

Trong đó, Việt Nam là quốc gia châu Á duy nhất vì có những kinh nghiệm và chuyên môn y tế riêng biệt, bao gồm việc phòng chống COVID-19 vô cùng hiệu quả.

TS. Trần Thị Mai Oanh – viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách Y tế (HSPI) – sẽ dẫn dắt nhóm nghiên cứu tại Việt Nam.

Nhóm này sẽ áp dụng một khuôn khổ mới do LSE phát triển để tiến hành khảo sát nhanh về tính bền vững, cũng như khả năng chống chịu của hệ thống y tế trong nước. Từ đó, nhóm có thể xác định các giải pháp thiết thực để nâng cao các phương diện này vì lợi ích của người dân Việt Nam.

Báo cáo của Việt Nam và các quốc gia thí điểm khác sẽ tập trung vào các yếu tố có tính chất quyết định khả năng chống chịu và tính bền vững của hệ thống y tế.

“Dù tạo ra những hậu quả to lớn, nhưng đại dịch này cũng chính là thời cơ để chúng ta hành động. Bên cạnh nhận thức cộng đồng mạnh mẽ chưa từng có do COVID-19 tạo ra, chúng tôi nhận thấy rằng đi cùng với đó là cả quyết tâm chính trị trong việc giải quyết các vấn đề y tế toàn cầu”, ông Nitin Kapoor – chủ tịch kiêm tổng giám đốc AstraZeneca Việt Nam – chia sẻ tại buổi công bố dự án trên.

Đại sứ Anh tại Việt Nam Gareth Ward cũng nhận định “việc trao đổi kiến thức và kinh nghiệm sẽ giúp chúng ta tăng cường hệ thống y tế của cả hai nước và chuẩn bị tốt hơn cho những khủng hoảng y tế có thể nảy sinh trong tương lai”.

“Tôi tin rằng sáng kiến đầy ý nghĩa này sẽ tạo nên ảnh hưởng tích cực ở cả cấp quốc gia và toàn cầu, đồng thời tôi mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác song phương giữa Vương quốc Anh và Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực y tế”, ông Ward nói.

Sự kiện có sự hiện diện của Đại sứ Anh Gareth Ward, Đại sứ Thụy Điển Ann Måwe, TS Lê Văn Khảm – vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế – Bộ Y tế, TS Trần Thị Nhị Hà – phó giám đốc Sở Y tế Hà Nội, chủ tịch kiêm tổng giám đốc AstraZeneca Việt Nam, ông Nitin Kapoor cùng các chuyên gia y tế và đối tác trong nước khác.

Google Maps tung hàng loạt cập nhật giúp phòng tránh COVID-19Google Maps tung hàng loạt cập nhật giúp phòng tránh COVID-19

TTO – Giữa lúc số ca nhiễm COVID-19 trên thế giới tăng mạnh, Google cho biết họ đang cập nhật thêm nhiều tính năng hữu ích cho người dùng Google Maps.